-Chân Lý Islam | baiviet | AT TAWHID | TAWHID DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI MỚI TÌM HIỂU ISLAM (Phần 2)
Bismillah-ir Rohman-ir Rohim / Assalamu Alaikum Warohma tulloh wabarakatu
GIỚI THIỆU TÔN GIÁO ISLAM - CHÂN LÝ CỦA NHÂN LOẠI
TAWHID DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI MỚI TÌM HIỂU ISLAM (Phần 2)
30.01.2008 04:32 - đã xem : 2851
_VIEWIMG
3.3- Hiểu biết về Nabi Muhammad (saw).
Ðó là Nabi Muhammad (saw) con ông Abdulloh con ông Abdulmuttalib Al Hashimmy Al Quraishy, và đó là vị sứ giả cao cả và cũng là sứ giả cuối cùng của nhân loại (Islam).
Sứ mạng của Nabi Muhammad (saw) đến để truyền bá tôn giáo Islam, khuyên chúng ta làm những điều tốt lành và tránh xa những điều bất lành.

Sứ giả Muhammad (saw) là vị gương mẫu, điển hình tốt đẹp nhất nên bắt buộc chúng ta phải nghe và thi hành theo những điều mà Sứ giả Muhammad (saw) truyền dạy, qua lời phán của Allah như sau:

قال تعالى: (لقد كان لكم في رسول الله أسوة حسنة) (الأحزاب:1 2

“Chắc chắn nơi Sứ Giả của Allah các người có được một gương mẫu tốt đẹp nhất”. S. 33 : 21

Bắt buộc chúng ta phải thương yêu, kính trọng Nabi Muhammad (saw) hơn hết tất cả những gì mà chúng ta thương yêu quí nhất trên đời này, ngay cả cha mẹ con cái của chúng ta.

Qua hadith mà Sứ giả (saw) đã nói:

قال صلى الله عليه وسلم: (لا يؤمن أحدكم حتى أكون أحب إليه من والده وولده والناس أجمعين) (البخاري ومسلم.

“Không trở thành người tin tưởng được, ngoại trừ các người thương mến Ta hơn tất cả những gì trên thế gian này, dù ngay cả cha mẹ con cái của các người”. Hadith do Al Bukhary và Muslim ghi lại.

Thương mến Rosul (saw) ở đây có nghĩa là kính yêu, thi hành và nghe theo những gì Người truyền dạy.

أشهد أن لا إله إل الله وأشهد أن محمدا رسول الله.

Chấp nhận chỉ có Allah Duy Nhất để tôn thờ, và chấp nhận Muhammad là Sứ giả của Allah.

1)- Ý nghĩa Shahađah “La ila ha illolloh”: không có thần linh nào khác để tôn thờ ngoài Allah Duy Nhất.

2)- Al Ibađah: ý nghĩa của sự Ibađah (sự hành đạo) là tất cả những điều hành đạo nào được Allah hài lòng và chấp nhận qua lời nói và hành động.

3)- Sự hành đạo có nhiều phương cách như: Ad đu-a (cầu xin), Sự sợ hãi, sự phó thác, sự hành lễ (solah), zikir (tụng niệm), hiếu thảo với cha mẹ…

Bằng chứng về sự đu-a cầu nguyện, qua lời phán của Allah:

قال تعالى: (وقال ربكم ادعوني أستجب لكم إن الذين يستكبرون عن عبادتي سيد خلون جهنم داخرين) (غافر60).

“Và Rabb của các người phán: 'Hãy cầu nguyện Ta, Ta sẽ đáp lại các ngươi. Thật sự, những ai kiêu ngạo xem thường việc thờ phụng Ta thì sẽ đi vào Hỏa Ngục một cách nhục nhã”. S. 40 : 60

Bằng chứng về sự sợ hãi, qua lời phán của Allah:

قال تعالى: (فلا تخافوهم إن كنتم مؤمنين) (آل عمران:5 17

“...bởi thế chớ sợ chúng mà hãy sợ TA (Allah) nếu các người là những người có đức tin”. S. 3 : 175

Bằng chứng về sự phó thác, qua lời phán của Allah:

قال تعالى: (وعلى الله فتوكلوا إن كنتم مؤمنين) (المائدة:3 2

“...và hãy phó thác cho Allah nếu quí vị có đức tin thực sự”. S. 5 : 23

Bằng chứng về sự solah (hành lễ).

قال تعالى: (وأقيموا الصلاة ولا تكونوا من المشركين) (الروم: 31)

“....và dâng lễ Solah (lên Ngài) và chớ là những người tôn thờ đa thần”. S. 30 : 31

Bằng chứng về sự zikir (tụng niệm,tưởng nhớ).

قال تعالى: (يأيها الذين ءامنوا اذكروا الله ذكرا كثيرا)) الأحزاب: 41)

“Hỡi những ai có niềm tin! tưởng nhớ Allah thật nhiều”. S. 33 : 41

Bằng chứng về sự hiếu thảo với bậc thân sinh.

فال تعالى: (ووصينا الإنسان بوالديه إحسانا) (الأحقاف 15)

“Và TA đã truyền cho con người nên hiếu thảo và ân cần với cha mẹ của mình”. S. 46 : 15

4)-Tất cả những điều liên quan đến vấn đề ibađath (sự hành đạo) đều thuộc về Allah Duy Nhất chứ không có sự đồng đẳng ở đó, nếu ai hướng sự hành đạo đó vào thần linh khác ngoài Allah ra, thì họ bị coi là kafir (kẻ phản lại Allah hay khước từ Allah). Qua lời phán của Ngài:

قال تعالى: (ومن يدع مع الله إلها ءاخر لا برهان له به فإنما حسابه عند ربه إنه لا يفله الكافرون) (المؤمنون: 117)

“Và ai cầu nguyện một thần linh khác cùng với Allah mà không có một bằng chứng nào về việc (thờ phụng) đó thì việc thanh toán y chỉ nằm nơi Rabb (Allah) của y. Quả thật, những kẻ không có đức tin sẽ không thành đạt”. S. 23 : 117

5)- Allah tạo ra loài Jinn và con người chỉ với mục đích là để tôn thờ Ngài, qua lời phán của Ngài.

قال تعالى: (وما خلقت الجن والإنس إلا ليعبدون) (الذاريات: 56

“Và Ta đã tạo ra loài Jinn và loài người chỉ để thờ phụng TA”. S. 51 : 56

6)- Những ai tôn thờ Allah một cách chính trực, đúng thật thì sẽ tìm thấy cuộc sống hạnh phúc, thanh bình và an vui, qua lời phán của Ngài:

قال تعالى: (من عمل صالحا من ذكر أو أنثى وهو مؤمن فلنحيينه حيواة طيبة) (النحل: 97)

“Ai làm việc thiện bất luận nam hay nữ, và là một người có đức tin thì chắc chắn TA sẽ cho y cuộc sống lành mạnh tốt đẹp, và chắc chắn TA sẽ ban cho họ phần thưởng của họ tùy theo điều tốt nhất mà họ đã làm”. S. 16 : 97

6.1- Chấp nhận Nabi Muhammad (saw) là sứ giả của Allah có nghĩa là: Tin tưởng theo những gì Người truyền bá, thi hành theo những gì Người chỉ dạy khuyên nhủ, xa lánh những gì Người ngăn cấm, chỉ thờ phụng Allah hay hành đạo theo những gì Người khuyên dạy.

6.2- Tên Sứ Giả của chúng ta là: Muhammad con ông Abdulloh con ông Abdulmuttalib Al Hashimy Al Quraishy. Người thuộc dòng họ cao sang quí phái nhất của người Arab xưa kia.

6.3- Allah đã gửi Nabi Muhammad (saw) xuống cho toàn dân gian, nên con người phải tuân theo sứ mạng của Người đề xướng, qua lời phán của Allah:

قال تعالى: (قل يأيها الناس إني رسول الله إليكم جميعا) (الأعراف: 158)

“Hãy bảo (họ): 'Hỡi nhân loại! Ta là Sứ giả của Allah được cử phái đến cho tất cả các người”. S. 7 : 158

6.4- Nabi Muhammad (saw) lớn lên ở Mecca, nhận lãnh sứ mạng tại đó, rồi đi truyền bá, kêu gọi con người trở về tôn thờ Allah Duy Nhất, không được đồng đẳng với thần linh khác. Di cư về Medinah, lập nghiệp đạo pháp tại đó, và những giáo luật Islam khác được nhận lãnh sau đó là: Zakat, Nhịn chay tháng Ramadan, Jihah và những giáo lý khác nữa, Người đã từ trần tại Medinah, thọ sáu mươi ba tuổi.

6.5- Những ai chống lại mệnh lệnh do sứ mạng của Sứ giả Muhammad (saw) truyền dạy, thì đáng bị trừng phạt một cách đau đớn, qua lời phán của Allah:

قال تعالى: (فليحذر الذين يخالفون عن أمره أن تصيبهم فتنة أو يصيبهم عذاب أليم) (النور: 63)

“Bởi thế, hãy cảnh cáo những ai chống đối mệnh lệnh của Người (Sứ giả Muhamad) nên biết, nếu làm thế, chúng sẽ gặp phải hoạn nạn hay gặp phải một hình phạt đau đớn”. S. 24 : 63

6.6- Những ai tuân theo mệnh lệnh của Nabi Muhammad (saw) sẽ tìm được sự hạnh phúc, an lành, thanh tịnh hoàn toàn và sẽ được thành công ở đời này cũng như Ngày Sau. Qua lời phán của Allah:

         قال تعالى: (وأطيعوا الله والرسول لعلكم ترحمون) (آل عمران: 132)

“Ngược lại, hãy vâng lệnh Allah và Sứ Giả (của Allah) để may ra các ngươi được khoan dung”. S. 3 : 132

         قال تعالى: وإن تطيعوه تهتدوا) (النور: 54)

“...Và nếu các ngươi vânh lệnh Người thì sẽ được hướng dẫn đúng đường”. S. 24 : 54

Phân loại về At Tawhid

At Tawhid: Có nghĩa là chỉ tin tưởng và thuần phục ở Allah duy nhất về Ðấng Tạo Hóa hay Ðấng Chủ Nhân, về sự thờ phụng và danh tính tuyệt đối cao cả của Ngài.

At Tawhid được chia ra làm ba loại, đó là Tawhid Arrububiyah, Tawhid Al Uluhiyah và Tawhid Al Asmáu và As Sifat.

         توحيد الربوبية:

1)- Tawhid Ar Rububiyah:

Ðó là tawhid hay sự tin tưởng duy nhất ở Ðấng Tạo Hóa về sự An Bày, Định đoạt của Ngài, sự Ban Bố lương thực, cuộc sống, sự xếp đặt những việc luân chuyển, biến hóa trong vũ trụ, sự sống chết...

Allah là Ðấng Tạo Hóa duy nhất chứ không có ai khác, qua lời phán của Allah như sau:

         قال تعالى: (الله خالق كل شيء) (الزمر: 62)

“Allah là Ðấng Tạo hóa tất cả vạn vật và là Ðấng Bảo hộ”.

Allah là Ðấng Duy nhất, ban bố lương thực và nuôi dưỡng, qua lời phán của Ngài.

         قال تعالى: (وما من دابة في الأرض إلا على الله رزقها) (هود: 6)

“Và không một sinh vật nào sống trên trái đất mà nguồn lương thực lại không do Allah cung cấp.” S. 11: 6

Allah là Ðấng Cai quản, quản lý trên tất cả, qua lời phán của Ngài:

         قال تعالى: (يدبر الأمر من السماء إلى الأرض) (السجدة: 5)

“Ngài sắp đặt mọi công việc từ trên trời xuống dưới đất.” S. 32 : 5

Công việc hay sự sống chết, sự tồn tại đều do sự an bày của Ngài, qua lời phán của Ngài.

         قال تعالى: (هو يحي ويميت وإليه ترجعون) (يونس: 56)

“Ngài ban sự sống và gây cho cái chết và các người sẽ được đưa về gặp Ngài trở lại.” S. 10 : 56

Những điều trên đây đã được những người đa thần chấp nhận vào thời của Rosul (saw) mới nhận lãnh wahy ở Mecca, nhưng họ từ chối tin theo Islam, như Allah đã phán:

         قال تعالى: (ولئن سألتهم من خلق السموات والأرض ليقولن الله) (لقمان 25)

“Và giả sử Ngươi (Muhammad) hỏi chúng: 'Ai đã tạo ra các tầng trời và trái đất? chắc chắn chúng sẽ đáp: 'Allah'.” S. 31 : 25

         توحيد الألو هية:

2)- Tawhid Al Uluhiyah:

Tawhid Al Uluhiyah là lý thuyết tôn thờ mà nô lệ phải thi hành đối với Ðấng Tạo Hóa Duy nhất, do Thiên lệnh của Ngài ban xuống mà nô lệ không được hướng sự thờ phượng hay hành đạo vào đối tượng khác ngoài Allah. Như sự cầu xin (đu-a), sự sợ hãi (alkhaffu), phó thác (tawakkal), cầu xin mong muốn, cầu sự xa lánh, tránh nạn...

Chỉ được cầu xin ở Allah Duy nhất qua lời phán của Ngài:

         قال تعالى: (وقال ربكم ادعوني أستجب لكم) (غافر: 60)

“Và Rabb của các người phán: Hãy cầu nguyện Ta, Ta sẽ đáp lại các ngươi.” S. 40 : 60

Chúng ta chỉ kính sợ Allah duy nhất qua lời phán của Ngài:

         قال تعالى: (فلا تخافوهم وخافون إن كنتم مؤمنين) (آل عمران:5 17)

“...bởi thế chớ sợ chúng mà hãy sợ TA (Allah) nếu các người là những người có đức tin.” S. 3 : 175

Chúng ta chỉ phó thác cho Allah Duy nhất, qua lời phán của Ngài:

         قال تعالى: (وعلى الله فتوكلوا إن كنتم مؤمنين) (المائدة: 23

“...và hãy phó thác cho Allah nếu quí vị có đức tin thực sự.” S. 5 : 23

Chỉ cầu xin sự giúp đỡ ở Allah duy nhất, qua lời phán của Ngài:

         قال تعالى: (إياك نعبد و إياك نستعين) (الفاتحة 5)

“(Ôi Allah) duy chỉ Ngài chúng tôi thờ phụng và chỉ với riêng Ngài chúng tôi cầu xin được giúp đỡ.” S. 1 : 5

Chỉ cầu xin ở Allah duy nhất, qua lời phán của Ngài.

         قال تعالى: (قل أعوذ برب الناس) (الناس: 1)

« Hãy bảo (họ): ' Tôi cầu xin Rabb (Đấng Chủ Tể) của nhân loại.” S. 114 : 1

Ðó là tawhid mà Rosul (saw) đã được Allah gửi Người xuống để truyền bá trong quần chúng, qua lời phán của Allah như sau:

         قال تعالى: (ولقد بعثنا في كل أمة رسولا أن اعبدوا الله واجتنبوا الطاغوت) (النحل: 36)

“Và chắc chắn TA đã cử một Sứ Giả đến cho mỗi cộng đồng (với Mệnh lệnh) Hãy thờ phụng Allah và tránh xa Tà thần.” S. 16: 36

Ðó là tawhid hay lý thuyết tôn thờ duy nhất mà những người bất tin từ xưa đến nay từ chối, không chấp nhận, qua lời phán của Allah như sau:

         قال تعالى: (أجعل الألهة إلها واحد إن هذا لشيء عجاب) (ص: 5)

“Phải chăng Y (Muhammad) nhập (tất cả) các thần linh lại thành một Thượng Ðế? Ðây thật là một điều hết sức quái dị.” S. 38 : 5

         توحيد الأسماء والصفات:

3)- Tawhid Al Asmãu và As Sifat: (Tawhid về danh tính và đặt tính tuyệt đối của Allah).

Bắt buộc chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối ở những gì thiên kinh Qur’an mà Allah đã phán về Ngài và những hadith soheh của Rosul (saw) đã nói về danh tính và đặt tính tuyệt đối của Allah. Danh tính của Allah thật nhiều, thí dụ như: Arrohman (Ðấng Khoan Dung), As Samieu (Ðấng Nghe Thấu), Al Basiru (Ðấng Trông Thấy), Alazizu, Al Hakim... Allah đã phán:

         قال تعالى: (ليس كمثله شيء وهو السميع البصير) الشورى: 11

“…không có cái gì giống Ngài cả. Và Ngài là Ðấng Hằng Nghe, Ðấng Hằng Thấy.” S. 42 : 11

صفات الفائزين

Ðặt tính của sự thành công

قال تعالى: (والعصر. إن الإنسان لفي خسر. إلا الذين ءامنوا وعملوا الصالحات وتواصوا بالحق وتواصوا بالصبر) (العصر 1-3)

“Thề bởi thời gian. Quả thật, con người sẽ đi vào thua thiệt. Ngoại trừ những ai có đức tin và làm việc thiện và khuyên bảo nhau tôn trọng sự thật và khuyên bảo nhau kiên nhẫn.” S. 103 : 1-3

Allah đã thề bởi thời gian đó là thời gian mà con người có thể sẽ mất mát và hại đến bản thân ngoại trừ đạt được bốn điều sau:

1)- Iman (Ðức tin): Ðó là sự hiểu biết rõ ràng về Allah Tối Cao, hiểu biết về Thiên Sứ của Ngài, hiểu biết về Islam tôn giáo của Ngài truyền xuống.

2)- Sự hành đạo một cách chân thật, đúng đắn: như As Solah (cầu nguyện) Az Zakat (bố thí), Az Siyam (Nhịn chay tháng Ramadan), Sođakoh (bố thí có tính cách tình nguyện), hiếu thảo với cha mẹ.

3) Khuyên nhủ thi hành những sự hành đạo tốt lành để tạo thêm niềm tin, hành đạo một cách đúng đắn, tốt lành và lo sợ cố gắng thi hành những sự tốt lành, một cách thành thật.

4)- Khuyên nhủ nhau phải biết kiên nhẫn trong việc thi hành những nghĩa vụ mà Islam giao phó, kiên nhẫn chịu đựng trước những sự thử thách, tai biến xảy đến.

ما ينافي التوحيد ويضاده

Những điều làm hại đến Tawhid.

1)- Allah Ðấng Tối Cao ra lệnh cho nhân loại phải tin tưởng, thờ phượng Ngài duy nhất, xa lánh những thần linh khác.

Như Ngài đã phán:

         قال تعالى: (ولقد بعثنا في كل أمة رسولا أن أعبدوا الله واجتنبوا الطاغوت) النحل: 36.

“Và chắc chắn TA đã cử một Sứ Giả đến cho mỗi cộng đồng (với Mệnh lệnh) ' Hãy thờ phụng Allah và tránh xa Tà thần.” S. 16 : 36

2)- Ý nghĩa At Tgogut: Tất cả những gì liên quan đến vấn đề tôn thờ hay thờ phượng ngoài Allah ra đều bị khước từ (có nghĩa là chỉ được phép tôn thờ Allah duy nhất mà thôi).

3)- Hình thức phản lại At Tgogut: Có nghĩa là hoàn toàn dứt khoát, không liên hệ với bất cứ những gì có tính cách thờ phượng ngoài Allah ra, phản đối và chống lại bằng mọi phương cách đưa đến sự thờ phượng bất chính ngoài Allah ra.

4)- As Shirk là phản lại At Tawhid: At Tawhid có nghĩa là chỉ tôn thờ có Allah Duy Nhất, còn Shirk có nghĩa là đã tôn thờ Allah, nhưng còn tôn thờ một ai khác nửa bên canh Ngài hoặc cầu nguyện ở thần linh mà không cầu xin trực tiếp với Allah, hoặc cúi (sujud) phủ phục trước thần linh khác ngoài Allah.

5)- As Shirk là tổ hợp hay thờ đa thần là một trọng tội lớn lao, qua lời phán của Ngài:

         قال تعالى: (إن الله لا يغفر أن يشرك به ويغفر ما دون ذلك لمن يشاء) النساء: 116

“Quả thật Allah không tha thứ việc tổ hợp (ai, cái gì) cùng với Ngài (Allah), nhưng tha thứ điều gì khác hơn điều đó cho người nào Ngài muốn.” S. 4 : 116

Những ai phạm phải tội shirk, thờ phượng tổ hợp đồng đẳng thần linh khác với Allah, thì những sự hành đạo của họ sẽ bị Allah từ chối và sẽ bị Allah hành hạ mãi mãi trong địa ngục, sẽ không bao giờ được thoát ra khỏi đó, như Allah đã phán:

         قال تعالى: (ذلك هدي الله يهدي به من يشاء من عباده ولو أشركوا لحبط عنهم ما كانوا يعملون) الأنعام: 88

“Ðó là Chỉ Ðạo của Allah mà Ngài đã dùng để hướng dẫn người nào Ngài muốn trong số bầy tôi của Ngài. Nhưng nếu họ tổ hợp (tôn thờ) những thần linh khác cùng với Ngài (trong việc thờ phụng) thì tất cả việc làm của họ sẽ hoài hết.” S. 6 : 88

         قال تعالى: (إنه من يشرك بالله فقد حرم الله عليه الجنة ومأواه النار) الأنعام:27

“Quả thật, ai tổ hợp thần linh cùng với Allah thì chắc chắn sẽ bị cấm vào Thiên Ðàng và chỗ ở của y sẽ là Lửa (của Hoả Ngục).” S. 5 : 72

6)- Al Kufru phản lại At Tawhid, có nghĩa là sự phản bội hay khước từ qua lời nói hoặc hành động của họ mà họ đi ra khỏi tawhid và đức tin duy nhất nơi Allah.

Thí dụ: Đùa giỡn, chê bai, giễu cợt về Allah và những Dấu hiệu, Chỉ Ðạo của Ngài, hay về Sứ Giả của Ngài, qua lời phán của Allah như sau:

         قال تعالى: (قل أبالله وءاياته ورسوله كنتم تستهزءون, لا تعتذروا قد كفرتم بعد إيمانكم) التوبة: 65ـ66.

“...Hãy bảo họ: 'Có phải các ngươi đang chế giễu Allah và các Lời mặc khải của Ngài và Sứ giả của Ngài'? Chớ tìm cách biện bạch. Chắc chắn các ngươi chối bỏ đức tin sau khi đã tuyên bố tin tưởng.” S. 9 : 65-66

7)- An Nifaq đạo đức giả, ngụy thiện cũng là điều phản lại tawhid, vì ý nghĩa của sự ngụy thiện là: thể hiện bên ngoài sự tawhid và đức tin, nhưng bên trong (lòng) thì tổ hợp, đồng đẳng và chống lại Islam. Thí dụ về sự ngụy thiện: Lời nói của họ thì thốt ra những điều liên quan về đức tin nơi Allah, nhưng thực tế thì bên trong của họ lại phản Islam. Qua lời phán của Allah:

         قال تعالى: (ومن الناس من يقول ءامنا بالله وباليوم الأخرة وماهم بمؤمنين) البقرة: 8

“Và trong nhân loại có những người nói: 'Chúng tôi tin tưởng nơi Allah và Ngày (Phán Xử) Cuối cùng' nhưng thật ra chúng không tin gì cả.” S. 2 : 8

Đón xem phần 3

Ý kiến bạn đọc
Ý kiến của bạn :
Tên Người Gởi :
E-Mail :
Nội Dung :

Các bài viết khác
Mọi góp ý xin gởi về - Email: chanlyislam@yahoo.com hoặc banbientap@chanlyislam.net
Online trong ngày 371 Tổng lượt truy cập 2523081