Bismillah-ir Rohman-ir Rohim / Assalamu Alaikum Warohma tulloh wabarakatu
GIỚI THIỆU TÔN GIÁO ISLAM - CHÂN LÝ CỦA NHÂN LOẠI
NHỮNG LỜI TỤNG NIỆM SAU SOLAH BẮT BUỘC (CÓ PHIÊN ÂM)
19.12.2008 13:32 - đã xem : 2709
_VIEWIMG
Giáo lý Islam bắt buộc những người Muslim phải Solah (hành lễ) năm lần một ngày và thể thức solah (những động tác, lời kinh nguyện và lời cầu nguyện) phải làm theo sự chỉ dẫn của Nabi Muhammad (saw). Mỗi động tác hay mỗi lời kinh mà chúng ta làm theo Người (saw) đều có những giá trị riêng của nó, cho nên sau khi solah xong chúng ta nên nán lại và tịnh tâm để đọc những câu đu-a (cầu xin) và những đoạn kinh Qur’an mà Người thường đọc trong lúc solah, đó là một trong những phương cách hành đạo để mang lại những kết quả tốt đẹp, Insha-Allah.

Chú thích : Bài này có phần tạm phiên âm dành cho những người không biết đọc chữ Arab, nhưng nếu có thể thì nên học đọc chữ Arab thì sẽ chính xác từ ngữ hơn.     

66- Sau khi salam xong thì nên đọc ba lần câu:   ((أَسْـتَغْفِـرُ اللهَ)) (Astaghfirullah)

Ý nghĩa: {Cầu xin Allah tha thứ tội cho bề tôi}. Hadith do ông Muslim ghi lại.

((اللَّهُـمَّ أَنْتَ السَّـلاَمُ، وَمِنْـكَ السَّـلاَمُ تَبَـارَكْتَ ذَا الْجَـلاَلِ وَالإِكْـرَامِ))

(Allah humma an tas salam – Wa min kas salam, tabarak ta zal chala li wal ik rom)

Ý nghĩa: {Thưa Allah! Ngài là Đấng Bình An và sự bình an được đến từ Ngài. Thưa Đấng có Quyền uy Tối cao và Rộng lượng, sự may mắn và hạnh phúc là do Ngài ban đến.} Hadith do Muslim ghi lại.

67- Kế tiếp đọc câu sau đây một lần:

((لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ وَحْـدَهُ لاَ شَـرِيْكَ لَـهُ، لَهُ الْمُـلْكُ وَلَـهُ الْحَمْدُ وَهُوَ عَلَـى كُلِّ شَـيْءٍ قَدِيرٌ. اللَّهُـمَّ لاَ مَانِعَ لِمـاَ أَعْطَيْتَ، وَلاَ مُعْطِيَ لِمَا مَنَعْتَ، وَلاَ يَنْفَعُ ذَا الْجَـدِّ مِنْكَ الْجَدُّ))

(La Ila ha il lolloh – Wah đahu la sha riy kalahu – Lahul mulku walahul hamdu – Wahuwa Ala kulli shay in qodir. Allah humma lâm ni-a lima ac troyt – Wala mu’a tri ya lima ma ni’a-t – Wala yan fa uzal chaddi min kal chad)

Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế nào xứng đáng được con người thờ phụng mà chỉ có Allah duy nhất và không có cộng tác ai với Ngài, mọi quyền lực, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài có khả năng trên tất cả mọi việc. Thưa Allah! sẽ không có uy quyền nào ngăn cản với những gì mà Ngài đã ban phát và cũng không có quyền thế nào ban phát trong khi Ngài đã ngăn cấm và cũng không có sự giàu có nào giúp đỡ được bản thân y đối với Ngài (ngoại trừ những việc làm tốt đẹp).} Hadith do Al-Bukhory và Muslim ghi lại.

68- Và đọc câu dưới đây một lần.

((لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ وَحْـدَهُ لاَ شَـرِيْكَ لَـهُ، لَـهُ الْمُـلْكُ وَلَهُ الحَمْـدُ وَهُوَ عَلَى كُلِّ شَـيْءٍ قَدِيرٌ. لاَ حَوْلَ وَلاَ قُوَّةَ إِلاَّ بِاللهِ. لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ، وَلاَ نَعْبُدُ إِلاَّ إِيَاهُ، لَهُ النِّعْمَةُ وَلَهُ الْفَضْلُ وَلَهُ الثَّنَاءُ الْحَسَنُ. لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ مُخْلِصِينَ لَهُ الدِّينَ وَلَوْ كَرِهَ الْكَافِرُونَ))

(La Ila ha il lolloh – Wah đahu la sha riy kalahu – Lahul mulku walahul hamdu – Wahuwa Ala kulli shay in qodir. La hâula wala kuwata Illa billa. La Ila ha Il Lollohu wala na’a budu Illa Iyahu La hun ni’a matu – wala hul fadlu – wala hush shana ul hasanu. La Ila ha il lollohu mukh lisina lahud điyna, wa lâu kari hal kafirun)

Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế nào xứng đáng được con người thờ phụng mà chỉ có Allah duy nhất và không có cộng tác ai với Ngài, mọi quyền lực, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài có khả năng trên tất cả mọi việc. Không có sự chuyển động nào chuyển động và cũng không có quyền lực nào phát huy ngoại trừ Allah muốn. Không có Thượng đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Allah, chúng tôi không tôn thờ (bất cứ thần linh nào) ngoại trừ Ngài (duy nhất), mọi hồng ân, mọi sự ưu đãi và mọi lời ca ngợi tán dương tốt đẹp đều là của Ngài. Không có Thượng đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Allah, thành tâm thờ phụng Ngài cho dù có bị bọn ngoại đạo ganh ghét.} Hadith do Muslim ghi lại. 

69- Tiếp tục đọc mỗi câu dưới đây ba mươi ba lần.

((سُبْـحَانَ اللهِ))   (Subha Nallah) Ý nghĩa: {Vinh quang thay Allah!}

((وَالْحَمْـدُ لِلَّهِ)) (Walhamdu Lillah) Ý nghĩa: {Mọi lời ca ngợi đều kính dâng Allah}

((وَاللهُ أَكْبَـرُ)) (Wallohu Akb’ar) Ý nghĩa: {Allah thật vĩ đại!}

Và đọc thêm một lần câu này cho đủ một trăm:

((لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ وَحْـدَهُ لاَ شَـرِيْكَ لَـهُ، لَـهُ الْمُـلْكُ وَلَـهُ الحَمْـدُ وَهُـوَ عَلَـى كُلِّ شَـيْءٍ قَدِيـرٌ))

(La Ila Ha Illolohu, wah dahu La Shariy ka lahu, Lahul Mulku, wa lahul hamdu, wa huwa Ala Kulli Shay In Qodir)

Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Allah duy nhất không có cộng tác với Ngài, mọi quyền lực, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài và Ngài có khả năng trên tất cả mọi việc.}

Rosul (saw) có nói: Ai tụng niệm như thế sau mỗi lần Solah thì y sẽ được xóa đi những lỗi lầm của y cho dù có nhiều như bọt biển. Hadith do Muslim ghi lại.

70- Đọc mỗi chương Qur’an (xem Thiên kinh Qur’an) sau đây một lần sau mỗi lần Solah Zuhr, Solah Asr và Solah Isa, nhưng đọc ba lần sau Solah Fajr và Solah Magrib:

 Ba bai KUL

Tạm phiên âm : (Kul hu wallohu ahad – Allo hush shoa mad – Lam ya lid wa lam yu lad – wa lam ya kullahu kufu wan ahad). S. 112 (Al-Ikhlas)  

Ý nghĩa: {(Hỡi Muhammad) hãy nói (với những người Do Thái, người Thiên Chúa Giáo và những kẻ thờ đa thần): Ngài là Allah, Đấng duy nhất, Allah là Đấng tự hữu, Đấng độc lập mà tất cả (vạn vật) phải nhờ vả, Ngài không sinh (đẻ) ra ai và cũng không do ai sinh ra, và không một ai (hay vật gì) có thể so sánh với Ngài đặng.} Chương Al-Ikhlas.

Tạm phiên âm : (Kul a u zu bi robbil fa laq – Min shar-ri ma kho laq – wa min sha-ri gho si qin iza wa qob – wa min sha-rin naf-fa-sha ti fil u qod – wa min shar-ri ha sidin iza ha sad). S. 113 ( Al-Falaq)

Ý nghĩa: {Hãy nói (hỡi Muhammad): Tôi cầu xin Thượng Đế (Đấng Chúa Tể) của buổi rạng đông che chở, tránh khỏi sự tác hại của những vật mà Ngài đã tạo, và khỏi sự tác hại của màn đêm khi nó bao phủ, và khỏi sự tác hại của những kẻ thổi (phù phép) vào những chiếc gút thắt, và khỏi sự hãm hại của những kẻ đố kỵ khi họ ganh tị.} Chương Al-Falaq.

Tạm phiên âm : (Kul a uzu bi robbin-nas – Mali kin-nas – Min sha-ril waswwa sil khon-nas – Allazi yu was wi sufi shudu rin-nas – Mi nal djinnati wan-nas). S. 114 ( Al-Nas)

Ý nghĩa: {Hãy nói (hỡi Muhammad): Ta cầu xin Thượng Đế (Đấng Chúa Tể) của nhân loại, Đức Vua của nhân loại, Thượng Đế của nhân loại, (che chở) tránh khỏi sự hãm hại của kẻ thù thì thào (lời xúi giục) rồi lẩn mất, kẻ thì thào (những điều tác hại) vào lòng người, thuộc loài Jin (ma) và loài người.} Chương Al-Nas

71- Và đọc một lần ayat 255 (Kursi) của Surat 2 (Al Bakoroq) :

Ayat Kursi

Tạm phiên âm : (Ala hula Ila ha illa huwal hay-yul koay-yum – La Ta’a khu zuhu sibatu wala Naumu – Lahu Ma Fis-sama wa tiwama Fil Ard – Man Zallaziy Yash Fa-u Indahu Illa Bi Iz ni’a – Yac Lamuma Bay na ay diy him wama khol fahum – Wala yuhiy tru nabi shay im min ilmihi Illa bima sha… - Wasi Akur siy yu hus sa a wa ti wal Ard – wala ya u duhu Hif zuhuma wahu wal a-liy yul azim) S. 2 / 255

Ý nghĩa: {Allah, không có Thượng đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Ngài, Đấng Hằng Sống, Đấng Tự Hữu và nuôi dưỡng vạn vật. Ngài không buồn ngủ và cũng không bao giờ ngủ. Mọi vật trong các tầng trời và trái đất đều là (những tạo vật) của Ngài. Ai có thể biện hộ được (cho bản thân hoặc cho người khác) nếu như không được lệnh của Ngài? Ngài biết được mọi điều xảy ra trước và sau họ. Và họ không thể nào bao quát được sự hiểu biết của Ngài về bất cứ điều gì ngoại trừ điều nào Ngài muốn cho họ biết. Ngai vương của Ngài bao trùm cả các tầng trời và trái đất, và việc cai quản trời đất không khó khăn hay nặng nhọc đối với Ngài bởi vì Ngài là Đấng Tối Cao, Đấng Vĩ Đại.}  Trích từ chương Al-Baqoroh ayat 255.

72- Đọc câu sau đây mười lần sau Solah Fajr và Solah Magrib:

((لاَ إِلَـٰهَ إِلاَّ اللهُ وَحْـدَهُ لاَ شَـرِيْكَ لَـهُ، لَـهُ الْمُـلْكُ وَلَهُ الحَمْـدُ، يُحْـيِي وَيُمِـيْتُ، وَهُـوَ عَلَـى كُلِّ شَـيْءٍ قَدِيرٌ))

(La Ila Ha Illolohu, wah dahu La Shariy ka lahu, Lahul Mulku, wa lahul hamdu, wa huwa Ala Kulli Shay In Qodir).

Ý nghĩa: {Không có Thượng Đế nào xứng đáng được thờ phụng mà chỉ có Allah duy nhất và không có cộng tác ai với Ngài, mọi quyền lực, mọi lời ca ngợi đều là của Ngài, Ngài là Đấng ban cho sự sống và cái chết và Ngài có khả năng trên tất cả mọi việc.} Hadith do Al-Tirmizy và Ahmad ghi lại.

Rosul (saw) đã nói: “Ai tụng niệm như thế mười lần sau solah Fajr và Margrib thì y được ghi lại mười điều tốt và đồng thời được xóa đi mười điều xấu và được nâng lên mười cấp.” Hadith do Al-Tirmizy ghi lại.

73- Và nên đọc câu đu-a sau đây một lần sau Solah Fajr.

((اللَّهُـمَّ إِنِّي أَسْـأَلُكَ عِلْماً نَافِعاً، وَرِزْقاً طَيِّباً، وَعَمَلاً مُتَقَبَّلاً))

(Allahuma Inniy as aluka il man na fi’a – wa rij kon troy yi ba - wa ama lan muta qab bala)

Ý nghĩa: {Thưa Allah! Bề tôi cầu xin Ngài ban cho sự hiểu biết có lợi, ban cho bổng lộc tốt đẹp và chấp nhận mọi việc làm tốt đẹp của bề tôi.}  Hadith do Ahmad và Ibn Majah ghi lại.

Hi vọng bài này sẽ mang nhiều lợi ích cho anh chị em Muslim, nếu ai không thuộc thì nên in ra để trước mặt đọc mỗi lần sau khi solah. Cầu xin Allah ban nhiều hồng phúc cho anh chị em và cầu xin Ngài chấp nhận những lời cầu xin của những bề tôi biết kính sợ Ngài, amin. 


Do Ibn Isa (Sinh Viên năm thứ năm trường University Islamic Of Madinah - Arabie Saudi) soạn thảo

Ý kiến bạn đọc
Ý kiến của bạn :
Tên Người Gởi :
E-Mail :
Nội Dung :

Các bài viết khác
AQEEDAH ISLAM 14.02.2017 10:53
Mọi góp ý xin gởi về - Email: chanlyislam@yahoo.com hoặc banbientap@chanlyislam.net
Online trong ngày 8 Tổng lượt truy cập 2359022